Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong thơ việt nam hiện đại
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------
VŨ THỊ LAN ANH
NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA TƢỢNG TRƢNG
VÀ SIÊU THỰC TRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Hà Nội - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------
VŨ THỊ LAN ANH
NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA TƢỢNG TRƢNG
VÀ SIÊU THỰC TRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành:
Mã số:
Lý luận văn học
62 22 01 20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Trần Khánh Thành
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN
Người hướng dẫn khoa học
Chủ tịch hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
PGS.TS. Trần Khánh Thành
PGS.TS. Đoàn Đức Phương
Hà Nội - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan dưới đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chính xác cao nhất. Các tài liệu tham
khảo trích dẫn có xuất xứ rõ ràng. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình
nghiên cứu của mình.
Tác giả
Vũ Thị Lan Anh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................4
4. Đóng góp mới của luận án ....................................................................................4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................................5
6. Cấu trúc của luận án .............................................................................................5
NỘI DUNG ................................................................................................................7
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .....................................7
1.1. Giới thuyết về chủ nghĩa tƣợng trƣng, siêu thực ............................................7
1.1.1. Chủ nghĩa tượng trưng ....................................................................................7
1.1.2. Chủ nghĩa siêu thực .......................................................................................11
1.2. Nghiên cứu về chủ nghĩa tƣợng trƣng, siêu thực trong thơ hiện đại Việt
Nam...........................................................................................................................14
1.2.1. Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu
thực trong tư tưởng sáng tác của các tác giả thơ Việt Nam hiện đại ....................14
1.2.2. Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu
thực trong bút pháp nghệ thuật của các tác giả thơ Việt Nam hiện đại................17
1.2.3. Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu
thực trong thơ Việt Nam qua các giai đoạn từ góc nhìn so sánh ..........................21
1.2.4. Nghiên cứu về tượng trưng, siêu thực ảnh hưởng đến quá trình sáng tác
của một số tác giả thơ hiện đại tiêu biểu .................................................................27
CHƢƠNG 2: YẾU TỐ TƢỢNG TRƢNG, SIÊU THỰC TRONG PHONG
TRÀO THƠ MỚI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ BỐI CẢNH TIẾP NHẬN VĂN HÓA
PHƢƠNG TÂY ĐẦU THẾ KỈ XX ........................................................................31
2.1. Phong trào Thơ mới trong hành trình phát triển tƣ duy nghệ thuật ..........31
2.2. Những biểu hiện của chủ nghĩa tƣợng trƣng trong Thơ mới ......................43
2.2.1. Sự tương hợp, tương giao trong cảm nhận về thế giới ................................43
2.2.2. Sử dụng biểu tượng trong Thơ mới...............................................................51
2.2.3. Nhạc tính trong Thơ mới ...............................................................................60
2.3. Những biểu hiện của chủ nghĩa siêu thực trong Thơ mới ............................64
2.3.1. Khám phá hiện thực tuyệt đối bằng giấc mơ ................................................66
2.3.2. Khám phá siêu thực bằng trực giác ..............................................................70
2.3.3. Phương thức tạo hình độc đáo của các nhà thơ siêu thực ..........................71
CHƢƠNG 3:YẾU TỐ TƢỢNG TRƢNG, SIÊU THỰC TRONG THƠ VIỆT
NAMGIAI ĐOẠN 1945 – 1975 VÀ NHU CẦU CÁCH TÂN, HIỆN ĐẠI HÓA
THƠ ..........................................................................................................................75
3.1. Bối cảnh thơ khu vực miền Bắc giai đoạn 1945 - 1975 .................................75
3.2. Những biểu hiện của khuynh hƣớng tƣợng trƣng, siêu thực trong thơ Trần
Dần ............................................................................................................................77
3.2.1. Ngôn từ thơ giàu sức gợi cảm và nhạc tính ..................................................77
3.2.2. Thơ Trần Dần sử dụng biểu tượng đầy ám ảnh ...........................................82
3.3. Những biểu hiện của khuynh hƣớng tƣợng trƣng, siêu thực trong thơ
Hoàng Cầm ..............................................................................................................85
3.3.1 Lối viết tự động ................................................................................................85
3.3.2. Giải mã những giấc mơ .................................................................................87
3.3.3. Phương pháp tạo hình ...................................................................................93
3.3.4. Thơ Hoàng Cầm mở ra tính chất tương giao và những liên tưởng bất ngờ
...................................................................................................................................96
3.3.5. Những sáng tạo về nhạc tính .........................................................................99
3.4. Bối cảnh văn học miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 .....................................101
3.5. Thơ Thanh Tâm Tuyền trong ảnh hƣởng của chủ nghĩa tƣợng trƣng, siêu
thực .........................................................................................................................105
3.5.1. Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Thanh Tâm Tuyền .......105
3.5.2. Những biểu hiện của yếu tố siêu thực trong thơ Thanh Tâm Tuyền ........111
3.6. Bùi Giáng với những ảnh hƣởng của chủ nghĩa tƣợng trƣng, siêu thực
.................................................................................................................................116
3.6.1. Hệ thống thi ảnh biểu tượng trong Bùi Giáng ...........................................118
3.6.2. Dòng chảy siêu thực trong thơ Bùi Giáng ..................................................123
CHƢƠNG 4:YẾU TỐ TƢỢNG TRƢNG, SIÊU THỰC TRONG THƠ VIỆT
NAMSAU 1975 THỰC HÀNH SÁNG TẠO TRONG THẾ GIỚI ĐA TRỊ ....128
4.1. Phác thảo diện mạo thơ Việt Nam từ sau 1975 .......................................... 128
4.2. Dấu ấn của chủ nghĩa tƣợng trƣng trong thơ Việt Nam từ sau 1975........131
4.2.1. Dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng trong cảm hứng và tư duy nghệ thuật ....131
4.2.2 Dấu ấn tượng trưng trong ngôn từ và nhạc điệu ....................................... 135
4.3. Dấu ấn của chủ nghĩa siêu thực ....................................................................139
4.3.1. Dấu ấn siêu thực trong cảm thức nghệ thuật .............................................139
4.3.2. Dấu ấn siêu thực trong cấu trúc văn bản ngôn từ .....................................148
KẾT LUẬN ............................................................................................................161
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................165
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử văn học nhân loại đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau,
trong đó có những thời kì nở rộ nhiều trường phái, trào lưu nghệ thuật có sức lan tỏa
sâu rộng. Ở phương Tây, chủ yếu là tại Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX hình
thành chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực với hệ thống quan niệm và những nguyên
tắc sáng tạo đặc thù, mang tầm ảnh hưởng lớn lao, không chỉ thúc đẩy thơ ca phát
triển rực rỡ mà còn thâm nhập vào nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như hội
họa, điện ảnh, điêu khắc ... Bằng những triết thuyết, tuyên ngôn, lý luận chặt chẽ,
và nhất là thực tiễn sáng tác đầy sức cuốn hút, thi phái tượng trưng, siêu thực đã
phát triển và định hình vị thế của mình trong nền thơ ca thế giới. Đối với Việt Nam,
một đất nước phương Đông, thuộc tiểu vùng Đông Nam Á cuối thế kỷ XIX, đã diễn
ra một cuộc gặp gỡ, giao lưu và tiếp xúc về văn hóa rất mạnh mẽ, góp phần đưa văn
học Việt Nam kết nối và hòa nhập cùng quỹ đạo chung của thế giới. Trong tầm ảnh
hưởng của quy luật giao lưu, tiếp nhận các loại hình nghệ thuật cũng như các trường
phái, trào lưu văn học, có thể khẳng định rằng thơ hiện đại Việt Nam có dấu ấn của
chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực.
Từ sau năm 1936, bắt đầu là khuynh hướng tượng trưng sau đó là siêu thực
du nhập vào nước ta và từ đó vận động, trải qua nhiều thăng trầm cùng dòng chảy
văn học dân tộc. Phong trào Thơ mới (1932 – 1945) “mở ra một thời đại trong thi
ca” đã minh chứng cho công cuộc canh tân thơ Việt Nam, nỗ lực vận động vượt
thoát ra khỏi loại hình thơ trung đại, phát triển theo tinh thần hiện đại, tiếp thu và
khai mở nhiều khuynh hướng, trào lưu phong phú. Cũng chỉ trong 13 năm Thơ mới
tồn tại, một khoảng thời gian không dài lâu nhưng thơ Việt đã đi qua và hấp thụ cả
100 năm thơ Pháp từ chủ nghĩa lãng mạn đầu thế kỷ XIX với tên tuổi Hugo,
Lamartine, Chateaubriand, Musset, Vigny, đến khuynh hướng tượng trưng với
Rimbaud, Verlaine, Mallarme, Baudelaire, và thậm chí đã chạm vào siêu thực – một
địa hạt độc đáo và huyền bí. Sau Cách mạng tháng Tám, phong trào Thơ mới khép
lại, ở miền Bắc loại hình văn học cách mạng trở thành dòng chảy chủ lưu mạnh mẽ,
1
phù hợp với hoàn cảnh thời đại sôi sục đấu tranh giải phóng dân tộc. Vì thế, khuynh
hướng tượng trưng, siêu thực cũng phai mờ dần trong sáng tác của các tác giả,
nhưng không vì thế mà mất đi. Nó vẫn âm thầm biểu hiện như những dòng mạch
riêng, ẩn khuất với những thử nghiệm, khám phá về bút pháp, có khi chìm sâu vào
sáng tạo vô thức, tâm linh. Ngay từ giai đoạn đầu của thời kì thơ kháng chiến,
những tác giả như Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm, Trần Dần đã thể hiện những tín
hiệu cách tân. Họ không chủ định tiếp thu như một kiểu luận thuyết nhưng với bản
chất là những yếu tố cơ bản trong thi pháp thơ nên tượng trưng, siêu thực vẫn hiện
hữu trên những trang thơ của họ. Từ năm 1954, đất nước bị chia cắt đôi miền Nam Bắc, văn học mỗi khu vực thuộc phạm trù văn hóa khác nhau, có những đặc trưng
riêng do ý thức hệ và ảnh hưởng của nhiều tư tưởng. Nếu các tác giả thơ miền Bắc
chủ yếu sáng tạo theo nguyên tắc tư tưởng thẩm mỹ của chủ nghĩa hiện thực xã hội
chủ nghĩa thì văn học đô thị miền Nam vùng tạm chiếm trong một bối cảnh khá đặc
biệt chịu ảnh hưởng của văn hóa Mĩ và phương Tây nên đã tiếp cận nhiều trào lưu
mang tinh thần khai phóng. Khuynh hướng tượng trưng, siêu thực có điều kiện được
tiếp nối trên mảnh đất này trong thơ Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, nhất là hoạt
động của nhóm Sáng Tạo với ý thức làm mới thơ như Thanh Tâm Tuyền, Bùi
Giáng, Tô Thùy Yên, Nguyên Sa, Nguyễn Đức Sơn ... Sau năm 1975, miền Nam
được giải phóng, đất nước độc lập thống nhất, văn học hai miền như hai dòng chảy
được hợp lưu, tạo nên diện mạo chung của thơ Việt Nam trong một thời kì mới.
Vượt qua những cách biệt trước đó, hòa vào không khí chung của công cuộc đổi
mới văn nghệ, từ năm 1986 văn học đất nước mở rộng giao lưu, hội nhập, người
nghệ sỹ được chủ động, tự do khám phá, sáng tạo cũng như tiếp nhận và thể nghiệm
nhiều phương thức sáng tác khác nhau. Tuy nhiên trong thời kì này, thơ chưa đạt
được những thành tựu kết tinh như văn xuôi, nhưng bước đầu đã xuất hiện nhiều
tiếng nói, âm hưởng, giọng điệu phong phú và độc đáo. Nhiều đại diện tiêu biểu
như Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng ... nỗ lực cách tân về hình
thức trình bày ngôn từ theo hướng sắp đặt, đề xuất kiểu thơ “dòng chữ” như một
cách phản ứng lại sự mòn cũ trong những diễn ngôn trước đó. Một số gương mặt
2
khác như Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Vi Thùy Linh,
Phan Huyền Thư, Mai Văn Phấn, Trương Đăng Dung, ... say sưa khai thác cái tôi
nội cảm giàu cung bậc, có khi đi vào vùng mờ tâm linh được kết hợp với ngôn ngữ
biểu đạt sắc nhọn và sự tổ chức cấu trúc văn bản. Có thể nói trong một bối cảnh
rộng mở, cùng với tiền đề là chủ nghĩa hiện đại đang có sự bứt phá, thậm chí là có
tính toàn cầu hóa thì khuynh hướng tượng trưng, siêu thực đã in đậm dấu ấn trong
bút pháp, tư tưởng, nguyên tắc sáng tạo của nhiều tác giả.
Những vấn đề mang tính lý luận và văn học sử được đặt ra bao gồm:Ở Việt
Nam có tồn tại chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong thơ hiện đại không? Những
điều kiện sinh thành, vận động và phát triển của khuynh hướng nghệ thuật này như
thế nào? Thơ hiện đại Việt Nam tiếp nhận trào lưu nghệ thuật tượng trưng, siêu thực
qua các giai đoạn cụ thể ra sao; sự khác biệt giữa các thời kì văn học đó. Những
nghiên cứu trước đó về khuynh hướng này đã đề cập đến lí thuyết thẩm mĩ và thực
hành sáng tạo, tuy nhiên, sự nghiên cứu một cách hệ thống, giới thuyết về nguyên
tắc sáng tác cũng như những tiêu chí biểu hiện thì đến nay lại chưa toàn diện. Bởi
vậy đứng trước những vấn đề khoa học hấp dẫn đó chúng tôi đã lựa chọn và tập
trung vào “Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong thơ
Việt Nam hiện đại” làm đề tài luận án. Đây là đề tài có ý nghĩa thiết thực đối với
nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án làm rõ những biểu hiện đặc trưng cho thấy ảnh hưởng của chủ nghĩa
tượng trưng, siêu thực đối với thơ Việt Nam hiện đại để chỉ ra vai trò, đóng góp và
hạn chế của khuynh hướng này trong tiến trình thơ Việt Nam. Quá trình tiếp nhận
ấy được phản ánh trên hai bình diện là quan niệm thẩm mỹ và nguyên tắc sáng tạo,
hay cụ thể hơn là thông qua nhiều cấp độ khác nhau như ý thức nghệ thuật, phương
thức sáng tác, nội dung biểu đạt, bút pháp, yếu tố. Đồng thời người viết cũng hướng
đến so sánh mức độ ảnh hưởng giữa các giai đoạn, khẳng định sự giao lưu, tiếp biến
văn hóa ấy đã đánh thức khả năng sáng tạo vô hạn của người nghệ sĩ, thể hiện bản
3
lĩnh nghệ thuật độc đáo ở họ, góp phần làm nổi bật những giá trị và tầm vóc thơ của
dân tộc Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án có nhiệm vụ:
-Tổng quan vấn đề nghiên cứu nhằm tìm ra những “khoảng trống” để tiếp tục
nghiên cứu.
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản vềchủ nghĩa tượng trưng, siêu thực.
- Mô tả, lí giải, chứng minh sự tiếp nhận chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực
trong phong trào Thơ mới 1932 - 1945, thơ Việt Nam giai đoạn 1945-1975 và sau
1975.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng
trưng và siêu thực thông qua những biểu hiện cụ thể trong thơ hiện đại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Thơ Việt Nam hiện đại (từ 1932 đến nay) và chỉ nghiên
cứu những tác giả tiêu biểu, có tính đại diện cao.
4. Đóng góp mới của luận án
Luận án có những đóng góp mới sau đây:
-Đầu tiên, luận án nghiên cứu và chỉ ra những biểu hiện cho thấy ảnh hưởng
của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực đến thơ Việt Nam hiện đại qua các giai đoạn:
1932 – 1945, 1945 – 1975, sau 1975, góp phần quan trọng làm rõ diện mạo thơ Việt
Nam trong tiến trình văn học nước nhà, khẳng định vị thế của văn học Việt Nam
trong dòng chảy văn học thế giới.
- Tiếp theo, luận án đã ứng dụng lý thuyết về tượng trưng siêu thực, loại hình
học, lý thuyết nghiên cứu trường hợp để tìm hiểu những hiện tượng điển hình trong
khuynh hướng tượng trưng, siêu thực của văn học Việt Nam.
- Đặc biệt, trong bối cảnh việc nghiên cứu xu hướng về tượng trưng, siêu
thực không phải là một lối đi hoàn toàn mới, luận án đã tìm ra được những “khoảng
trống” cần bổ sung cho toàn diện hơn và chỉ ra được những biểu hiện cụ thể dưới
góc nhìn so sánh.
4
- Cuối cùng, luận án cũng góp phần trong việc nhận diện và định hình về chủ
nghĩa tượng trưng, siêu thực trong thơ Việt Nam hiện đại, cũng như chỉ ra xu thế
vận động, phát triển của khuynh hướng này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp chính sau đây:
-Phương pháp lịch sử - xã hội: đây là phương pháp cơ bản, quan trọng nhất
xuyên suốt toàn bộ luận án. Vận dụng những tính năng của phương pháp này luận
án chỉ ra quá trình hình thành, vận động, tồn tại của khuynh hướng tượng, siêu thực
và những ảnh hưởng của nó với thơ hiện đại Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu tâm lí học sáng tạo: giúp chúng ta hình dung
tương đối cụ thể về quá trình lao động nghệ thuật của người nghệ sĩ với những thao
tác trong trí tưởng tượng, tinh thần, tâm hồn của họ.
- Phương pháp so sánh: được sử dụng để chỉ ra sự tương đồng và khác biệt
trong tiếp nhậnảnh hưởng của chủ nghĩa tượng, siêu thực ở các giai đoạn văn học
cũng như đối với một số tác giả tiêu biểu.
- Phương pháp loại hình: thao tác chủ đạo cũng là so sánh, tuy nhiên trọng
điểm thiên về nêu lên sự khu biệt để hướng đến định hình, nhận diện về kiểu loại
thơ tượng trưng, siêu thực có những đặc trưng nổi bật như thế nào.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): nghiên cứu tác phẩm của
các tác giả tiêu biểu để thấy được những nét chính, tổng thể của cả một giai đoạn
văn học.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: nghiên cứu văn bản tác phẩm trong mối
quan hệ lịch sử với các lĩnh vực khác có liên quan, đặc biệt là tâm lý học.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác ở mức độ nhất
định như: thống kê, phân tích (thống kê, phân tích các tác phẩm thơ có ảnh hưởng
của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực; thống kê các yếu tố đặc trưng biểu hiện ảnh
hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực); nghiên cứu tiểu sử (nghiên cứu tiểu sử
của các nhà thơ tiêu biểu cho chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực).
6. Cấu trúc của luận án
5
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án được cấu trúc
thành 4 chương:
Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2. Yếu tố tượng trưng, siêu thực trong phong trào Thơ mới nhìn từ
góc độ bối cảnh tiếp nhận văn hóa phương Tây đầu thế kỉ XX
Chương 3. Yếu tố tượng trưng, siêu thực trong thơ Việt Nam giai đoạn 1945
– 1975 và nhu cầu cách tân, hiện đại hóa thơ
Chương 4. Yếu tố tượng trưng, siêu thực trong thơ Việt Nam sau 1975 thực
hành sáng tạo trong thế giới đa trị
6
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Giới thuyết về chủ nghĩa tƣợng trƣng, siêu thực
1.1.1. Chủ nghĩa tượng trưng
Luận giải về chủ nghĩa tượng trưng, các nhà nghiên cứu có nhiều cách tiếp cận
khác nhau. Tuy nhiên, dù xuất phát từ cách tiếp cận nào thì những nội dung chính được
các nhà nghiên cứu quan tâm đến cũng tập trung vào khái niệm “tượng trưng”, sự ra
đời của chủ nghĩa tượng trưng và cơ sở triết học của chủ nghĩa tượng trưng.
Từ điển Cambridge định nghĩa “symbol” (tượng trưng) nghĩa là: 1/ Một vật,
biểu tượng hoặc đối tượng được dùng để đại diện cho một điều nào đó, ví dụ: trái
tim là tượng trưng cho tình yêu; 2/Một vật được sử dụng để biểu thị cho chất lượng
hoặc ý tưởng, ví dụ: nước, biểu tượng của sự sống; 3/Con số, bức thư, ký hiệu được
sử dụng trong toán học, âm nhạc, khoa học,… ví dụ: Kí hiệu của Oxy là O; 4/Một
vật có thể được mô tả như biểu tượng của một vật khác nếu nó được xem như là đại
diện bởi vì nó kết nối rất nhiều ý tưởng của mọi người với nhau. Qua định nghĩa
trên ta có thể thấy rằng “tượng trưng” và “biểu tượng” là hai khái niệm rất gần gũi.
Khi chuyển dịch khái niệm “symbol” sang tiếng Việt, thuật ngữ này được dùng với
cả nghĩa “tượng trưng” và “biểu tượng”.
Từ điển tiếng Việtcủa Hoàng Phê chủ biên, định nghĩa tượng trưng là:
“1/dùng một sự vật cụ thể có hình thức hoặc tính chất thích hợp để gợi ra sự liên
tưởng đến một cái trừu tượng nào đó, ví dụ: Chim bồ câu tượng trưng cho hòa bình;
2/ sự vật cụ thể được dùng để tượng trưng cho một cái trừu tượng nào đó, ví dụ:
Xiềng xích là tượng trưng cho nô lệ” [102, tr.1082].
Theo Hegel, tượng trưng được hiểu như một kiểu tư duy nghệ thuật và đã
xuất hiện từ rất lâu: “là một sự vật bên ngoài, một dấu hiệu trực tiếp nói thẳng với
trực giác chúng ta: tuy sự vật này không phải được lựa chọn và được chấp nhận như
nó tồn tại trong thực tế vì bản thân nó. Trái lại, nó được chấp nhận với một ý nghĩa
rộng lớn và khái quát hơn nhiều. Do đó, phải phân biệt ở trong tượng trưng hai yếu
tố: ý nghĩa và biểu hiện. Ý nghĩa là sự gắn liền với một biểu hiện hay một sự vật dù
7
cho nội dung của biểu hiện này hay của sự vật này là cái gì. Còn sự biểu hiện là một
tồn tại cảm quan hay một hình ảnh nào đó” [53, tr.496-497]. Cách định nghĩa này
xem xét khái niệm tượng trưng trong phạm trù nghệ thuật, trong đó bao gồm cả văn
học nghệ thuật.
Theo Chu Quang Tiềm, tượng trưng là: “dùng những sự vật cụ thể để diễn tả
những gì mang tính chất trừu tượng. Mỹ cảm phát sinh ở chỗ trực giác được hình
tượng, cho nên tác phẩm văn nghệ là sự biểu hiện những ý tưởng cụ thể, nó trực tiếp
lay động sự xúc cảm của giác quan” [137, tr.24].
Khi nhắc đến khái niệm tượng trưng, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến
khái niệm “biểu tượng” vì trong nhiều trường hợp, hai khái niệm này được đồng
nhất với nhau. Từ điển thuật ngữ văn học viết: “Biểu tượng như là thuật ngữ của mĩ
học, lí luận văn học và ngôn ngữ học còn được gọi là tượng trưng, nó có nghĩa rộng
và nghĩa hẹp” [49, tr. 24]. Theo chúng tôi, hai khái niệm này có điểm thống nhất vì
mọi biểu tượng đều có tính tượng trưng nhất định. Tuy nhiên, trong mỗi biểu tượng
ngoài tính tượng trưng nó còn có những ý nghĩa khác. Đồng thời, mỗi hình ảnh
tượng trưng cũng mang trong nó những thông điệp khác nhau. Chính vì thế, không
thể đồng nhất tượng trưng và biểu tượng.
Trong luận án này, tượng trưng được hiểu với nội hàm là một phương diện
đặc thù của sáng tạo nghệ thuật, nó trở thành phương thức khái quát đời sống,
nghiêng về tính chất ổn định và đa nghĩa. Tượng trưng phải xuất phát từ một hình
tượng nghệ thuật nhất định, từ đó mở ra nhiều liên tưởng phong phú, có khả năng
khám phá hiện thực và nâng tầm hình tượng ở mức độ ngưng kết ý nghĩa.
Chủ nghĩa tượng trưng là một trào lưu nghệ thuật ra đời vào những năm 5060 của thế kỷ XIX tại Pháp, sau đó lan dần sang châu Âu, Nga, Mỹ nửa cuối thế kỷ
XIX và đầu thế kỷ XX mở rộng dần ra các châu lục, đến cả các nền văn học châu Á
như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Từ văn học, trào lưu này còn lan sang hội
họa, để chỉ những tác phẩm hội họa tạo ra cảm xúc cho người đọc bằng cách tạo ra
những cảnh tượng trong tranh thần bí như mơ bằng cách sử dụng những vệt màu
khác nhau. Sau đó, chủ nghĩa tượng trưng còn ảnh hưởng tới cả các lĩnh vực khác,
8
trong đó có điện ảnh.
Baudelaire là người có công tiên báo cho sự ra đời chủ nghĩa tượng trưng với
bài thơ Correspondacnes(Những tương ứng) vào năm 1855 nhưng đến ngày
18/9/1886 khi Jean Moréas đăng bài Un manifeste littéraire(Tuyên ngôn văn
học)thể hiện thái độ khước từ chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tự nhiên, công bố sự
ra đời trường phái mới – chủ nghĩa tượng trưng trên báo Le Figaromới đánh dấu sự
ra đời của trào lưu này. Jean Moréas đã phân tích quá trình vận động của các thể
loại để cho thấy sức chống chịu mòn mỏi của chủ nghĩa lãng mạn sau thời hoàng
kim vào thế kỷ XIX, mất đi sức mạnh và sự hấp dẫn khi chủ nghĩa tự nhiên ra đời,
sau đó chủ nghĩa tự nhiên lại không trụ vững trước những lời phê phán nghiệt ngã
của các nhà thơ tượng trưng. Thậm chí, các tác phẩm của Zola – tác giả được xem
như hiện thân của chủ nghĩa tự nhiên, bị xem là “nghệ thuật nấu nướng”, không có
ý tưởng và biểu tượng. Với chủ nghĩa tượng trưng, những bức tranh về thiên nhiên,
con người được hình tượng hóa một cách huyền bí như Jean Moréas khẳng định:
“Điều căn bản mà chủ nghĩa tượng trưng mang đến là không bao giờ ám chỉ điều gì
như một khái niệm tuyệt đối” [147].Quan niệm thẩm mỹ của chủ nghĩa tượng trưng
dựa trên tư tưởng triết mỹ của Emmanuel Kant, Athur Schopenhauer, thuyết thần
cảm của Đức, quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” của Théophile Gautier và phái
“thuần văn học” của Edgar Allan Poe. Jean Moréas đưa ra bảy nguyên tắc hoạt
động của thơ tượng trưng là: biểu trưng cho sự vật tự nó và các ý niệm nằm ngoài
giới hạn của sự tri giác cảm tính; vươn tới bản chất lý tưởng siêu thời gian của thế
giới; thể hiện vẻ đẹp siêu nghiệm; bác bỏ lý tưởng thẩm mỹ: nghệ thuật vị nghệ
thuật; phản ứng lại phái Thi Sơn, phái thơ chú trọng đến việc mô phỏng hiện thực;
gợi ra những sắc thái tế nhị của cảm giác và tâm hồn; mơ ước đạt được cái thực tại
ở bên ngoài những hiện tượng biểu kiến của cuộc đời, vũ trụ. Nối tiếp nguồn thơ
Baudelaire có một thế hệ đông đảo các nhà tài năng như Stéphane Mallarmé (1842
– 1898), Paul Verlaine (1844 – 1896), Arthur Rimbaud (1855 – 1891), Henri de
Réginier (1864 -1936), Paul Valéry (1871 -1945) ... khai thác, phát triển, bổ sung
thành một khuynh hướng nghệ thuật chủ đạo của thơ Pháp và châu Âu.
Sau bản tuyên ngôn này, thuật ngữ “chủ nghĩa tượng trưng” được đưa vào sử
9
dụng. Ngay từ nửa đầu thế kỷ XIX, một số nhà thơ Mĩ tiêu biểu (như: Emerson,
Melville Hawthome, đặc biệt là Edgar Allan Poe) đã có ý thức sử dụng yếu tố tượng
trưng như một thủ pháp nghệ thuật hữu hiệu. Kể từ khi chủ nghĩa tượng trưng ra
đời, nhiều công trình nghiên cứu đã tìm hiểu về sự ra đời, cơ sở triết học, quan niệm
nghệ thuật cũng như nguyên tắc sáng tác của trào lưu văn học này.
Cuốn Maeterlinck et le symbolisme (Maeterlinck và chủ nghĩa tượng trưng) của
Marcel Postic, xuất bản năm 1970, đại học Michigan, đã nghiên cứu và chỉ ra những
đóng góp của Maeterlinck với chủ nghĩa tượng trưng. Đây là một trong những gương
mặt tiêu biểu góp phần quan trọng vào sự phát triển của chủ nghĩa tượng trưng.
Cuốn Le Symbolisme Art of Century (Chủ nghĩa tượng trưng – Nghệ thuật của
thế kỷ) của Nathalia Brodskaya, Nxb Parkstone International, xuất bản năm 2012 đã
tổng hợp điểm nổi bật về chủ nghĩa tượng trưng trong các thời kỳ cũng như các tác
phẩm nổi bật của chủ nghĩa tượng trưng trong văn học, thơ ca và nghệ thuật.
Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác như: Cuốn Maurice
Maeterlinck: le symbolisme de la différence (Maurice Maeterlinck: chủ nghĩa siêu
thực của sự khác biệt) của Paul Gorceix, Đại học Wisconsin – Madison, 2000; Bài
viết Le symbolisme de la difference (Biểu tượng của sự khác biệt) của Paul Gorceix
xuất bản năm 1997, cuốn Qu'est-ce que le symbolisme? (Chủ nghĩa siêu thực là gì?)
của Marcel Postic, ĐH Michigan, 2007…
Tóm lại, có thể thấy rằng về cơ bản, các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa
tượng trưng thống nhất về nội hàm khái niệm tượng trưng, cơ sở triết học, quan
điểm cũng như nguyên tắc hoạt động của trường phái này. Đây là một điểm thuận
lợi cho chúng tôi trong khi đi đến thống nhất về mặt khái niệm để làm cơ sở lý luận
cho đề tài.
Các công trình nghiên cứu chuyên biệt về chủ nghĩa tượng trưng khá phong
phú, tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu tổng hợp hoặc điển hình về các tác
giả của chủ nghĩa tượng trưng đều có đề cập đến những đặc điểm của trường phái
này ở những mức độ khác nhau.
10
1.1.2. Chủ nghĩa siêu thực
Trong giới nghiên cứu từ trước đến nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau
về chủ nghĩa siêu thực (surréalism). Đây là một trào lưu văn học xuất hiện vào
những năm 20 của thế kỷ XX tại Pháp. Guillaume Apollinaire được coi là người
đầu tiên dùng thuật ngữ “chủ nghĩa siêu thực” vào năm 1917. Ngay trong
Calligrammes(Thơ hình vẽ) sáng tác năm 1918, ông đã báo hiệu cho siêu thực bằng
một “cái tên mới” với nội hàm về một bề sâu thẳm của ý thức để có thể “Nhìn thật
kĩ ở xa/Nhìn tất cả/Từ gần”. Tuy nhiên, đúng như nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân
nhận định Apollonaire “chỉ là người mở đầu cho nền “thơ mới” nói chung và báo
hiệu cho thơ siêu thực Pháp nói riêng nhưng ông không phải là nhà thơ siêu thực
thực sự” [22- tr.117].
Năm 1924, André Breton công bố Tuyên ngôn chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa
siêu thực được định nghĩa là: “hành vi tâm lý vô thức thuần túy, mà thông qua nó bạn
dự định biểu lộ - hoặc là bằng lời, hoặc là bằng chữ viết, hoặc là bằng bất cứ cách nào
khác – sự vận hành thực tế của tư duy; sự xui khiến của tư duy, không có bất cứ một
cách thức nào” [22- tr.117]. André Breton đã coi Piere Reverdy là người đã đặt ra tiêu
chí về hình ảnh trong thơ siêu thực. Theo luận điểm của Piere Reverdy thì hình ảnh
xuất hiện bắt nguồn từ sự xích lại gần nhau hay thu hẹp khoảng cách của những hiện
thực cách xa nhau. Những thủ pháp được các nhà siêu thực dùng thường là: cái nghịch
lý, sự bất ngờ, thống nhất giữa những cái không thể thống nhất được, sự tương
tự…Những thủ pháp đó làm cho tác phẩm của họ mang tính huyền ảo, phi lý, tạo ra nét
độc đáo riêng biệt. Theo Breton, cơ sở phương pháp sáng tạo của chủ nghĩa siêu thực là
sự tác động thuần túy nhằm mục đích thể hiện bằng lời nói, hoặc chữ viết, hoặc bằng
bất kỳ phương tiện nào khác hoạt động hiện thực của tư tưởng. Các tư tưởng được tự
do bộc lộ, không phải chịu kỳ một sự kiểm soát nào của lý trí hay của những thành kiến
đạo đức và thẩm mỹ. Theo đó, chủ nghĩa siêu thực tôn trọng tính tự do của thơ ca, có
thể không cần dấu câu, trật tự cú pháp, đề cao sự liên tưởng cá nhân. Năm 1924 cũng là
năm tạp chíLa Révolution surréaliste (Cách mạng siêu thực) ra đời như một dấu mốc
cho sự hình thành của trường phái siêu thực. Cũng như tượng trưng, siêu thực có ảnh
hưởng đến cả hội họa.
11
Năm 1971, trong Le surrélisme (Chủ nghĩa siêu thực), Armand Colin, tr.4,
Robert Bréton, đã định nghĩa: “Chủ nghĩa siêu thực là một cuộc cách mạng văn hóa,
bởi vì nó đã đề xuất với chúng ta sự đảo lộn các ý tưởng, hình ảnh, huyền thoại, thói
quen thuộc về tinh thần đã quyết định cả nhận thức của chúng ta hiện tại về thế giới
và sự dấn thân của bản thân mỗi người vào thế giới đó” [152 – tr 4]. Theo đó, tác
giả cũng phân hình ảnh ra 3 cấp độ xây dựng hình ảnh cơ bản của chủ nghĩa siêu
thực, đó là: dựa trên từ “như” so sánh, A như B, trong đó vế B có tính siêu thực,
nhằm gây sửng sốt cho người đọc; đặt A và B cạnh nhau, không dùng liên từ “như”
hoặc tương đương gọi là so sánh cụt (comparasion tronquée); sử dụng ẩn dụ cụt
(métaphore tronquée) và là loại kết hợp hình ảnh phức tạp nhất của siêu thực.
Cuốn Surréalisme et littérature: une comparaison entre le surréalisme grec
et français (Chủ nghĩa siêu thực và văn học: một so sánh giữa chủ nghĩa siêu thực
Hy Lạp và Pháp) của Efthymia Rentzou, xuất bản năm 2002 đã nghiên cứu và chỉ ra
những điểm tương đồng khác biệt giữa chủ nghĩa siêu thực trong văn học Hy Lạp
và văn học Pháp.
Trong cuốn Les surréalistes (Những tác giả chủ nghĩa siêu thực) của Anne
Egger, Nxb Le Cavalier Bleu, 2003, từ ý tưởng về việc phần lớn chủ nghĩa siêu thực
đã bị đóng băng trong phong trào khối (mouvement monolithique), Egger đã cố
gắng chỉ ra sự đa dạng về phong cách và kỹ thuật trong phương thức biểu đạt siêu
thực và chủ nghĩa triết chung (eclectisme) của các nghệ sỹ đương đại. Hai yếu tố tạo
nên thành công cho thơ siêu thực là viết tự động và hình ảnh. Theo J.Vaché thì hình
ảnh là “những va đập chói lòa của từ ngữ”. Hình ảnh trong thơ siêu thực thường
mang tính mộng mị, chiêm bao (onirique), lạ và bất ngờ.
Trong bài Le surréalisme (siêu thực) viết năm 2012, trên website
http://lesdefinitions.fr/surrealisme, tác giả định nghĩa chủ nghĩa siêu thực là: “khái
niệm bắt nguồn từ tiếng Pháp. Đây là một phong trào văn học nghệ thuật. Nền tảng
triết học của chủ nghĩa siêu thực dựa trên trực giác của H. Bergson, thuyết phân tâm
học của S.Freud và thuyết tương đối của A.Einstein.
Cuốn Chủ nghĩa siêu thực Pháp thế kỷ XX: nghiên cứu – tuyển – dịch của
12
Đông Hoài, Nxb Văn học, năm 1994 đã nghiên cứu và dịch một số bài thơ siêu thực
Pháp trong thế kỷ XX và thơ Việt có yếu tố siêu thực. Trong đó, tác giả có đề cập
đôi nét về cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân.
Trong bài giới thiệu cho chuyên đề Chủ nghĩa siêu thực đăng trên Tạp chí văn
học nước ngoài, số 5, tháng 9-10/2004, sau này được trích đăng trên
https://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/andre-breton--chu-nghia-sieu-thuc1974175.html với tựa đề André Breton và chủ nghĩa siêu thực, Đỗ Lai Thúy đã tóm tắt
lại lại quá trình hình thành, cơ sở sáng tạo của chủ nghĩa siêu thực cũng như mối quan hệ
giữa chủ nghĩa siêu thực và chủ nghĩa tượng trưng. Theo đó, mục đích cao nhất của chủ
nghĩa siêu thực là kêu gọi giải phóng cái tôi khỏi những “gông cùm” của lo-gic, lí trí, đạo
đức và mỹ học truyền thống. Trong sáng tác, hiện thực cần được tái tạo một cách chân
thực nhất – đó là hiện thực tuyệt đối. Đỗ Lai Thúy cũng bày tỏ mong muốn: “Tuy không
còn tồn tại nữa, nhưng chủ nghĩa siêu thực là một chặng đường tự nhận thức quan trọng
của văn học với những bài học lịch sử quý giá của nó. Hơn nữa, siêu thực không tồn tại
như một chủ nghĩa nhưng văn học hiện đại không thể thiếu nó với tư cách là những yếu
tố”
[https://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/andre-breton--chu-nghia-sieu-
thuc-1974175.html].
Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác như: cuốn Littérature
malgré elle: le surréalisme et la transformation du littéraire: la France, la
Grèce, confrontations (Văn học và tấm gương tư phản chiếu: chủ nghĩa siêu
thực và sự chuyển đổi văn học Pháp, Hy Lạp và những đối đầu) của Effthymia
Rentzou, NXB Association des amis de Pleine marge, 2002; Nguyễn Văn Dân
(2013), Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật; Lã Nguyên (2016), Sự
tiếp nhận các lý thuyết văn học hiện đại phương Tây từ 1986 đến
nayhttps://languyensp.wordpress.com/2016/01/29/su-tiep-nhan-cac-li-thuyetvan-nghe-hien-dai-phuong-tay-tu-1986-den-nay/....
Như vậy, có thể thấy cũng như khi bàn về chủ nghĩa tượng trưng, các công
trình nghiên cứu về chủ nghĩa siêu thực đều thống nhất về nội hàm khái niệm cũng
như nguyên tắc sáng tác, quan niệm của trường phái này. Trong các công trình
13
nghiên cứu, mối quan hệ giữa tượng trưng và siêu thực là vấn đề nhiều tác giả đề
cập đến. Điều đó rất hữu ích cho chúng tôi trong khi tìm hiểu tổng hợp sự tác động
các yếu tố tượng trưng, siêu thực của hai trường phái này đến sáng tác của các nhà
thơ Việt Nam hiện đại.
1.2. Nghiên cứu về chủ nghĩa tƣợng trƣng, siêu thực trong thơ hiện đại
Việt Nam
Ở Việt Nam không có chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực nhưng những ảnh
hưởng của yếu tố tượng trưng, siêu thực đến thơ hiện đại Việt Nam là không thể
phủ nhận. Trong tiến trình thơ Việt Nam, ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực đến
tư tưởng sáng tác, quan niệm nghệ thuật, bút pháp nghệ thuật của các nhà văn ở mỗi
thời điểm không giống nhau. Những ảnh hưởng này đã được nghiên cứu dưới hình
thức những công trình nghiên cứu riêng rẽ hoặc tích hợp trong các công trình
nghiên cứu chung trong các sách, báo, tạp chí. Qua tìm hiểu các công trình nghiên
cứu về ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực trong thơ Việt Nam hiện đại, chúng tôi
nhận thấy, các công trình tập trung vào các xu hướng chính: nghiên cứu về ảnh
hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực đến tư tưởng sáng tác của các nhà thơ
Việt Nam hiện đại; nghiên cứu về ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực
đến bút pháp sáng tác của các nhà thơ Việt Nam hiện đại.
1.2.1. Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng,
siêu thực trong tư tưởng sáng tác của các tác giả thơ Việt Nam hiện đại
Những cách tân về nội dung và nghệ thuật của một thi phẩm bao giờ cũng
bắt nguồn từ những sự thay đổi nhỏ nhất trong tư tưởng sáng tác. Bộ phận thơ ca
ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực, tượng trưng trong tiến trình phát triển của văn
học Việt Nam cũng không ngoại lệ. Những tác động của chủ nghĩa tượng trưng,
siêu thực đến vào đúng thời điểm các thi nhân Việt Nam đang tìm lối đi để thoát
khỏi thực tiễn ảm đạm, buồn chán và nhiễu nhương, khi chủ nghĩa lãng mạn đã đến
giai đoạn không đáp ứng được mộng chí thơ ca của các nhà thơ. Có lẽ vì thế, các
nhà thơ trong phong trào Thơ mới những năm 1932 đã chịu ảnh hưởng của tượng
trưng, siêu thực một cách rất tự nhiên, dựa trên cái gốc của chủ nghĩa lãng mạn để
14